Bệnh dịch tả gà – Newcastle Disease – ND

Bệnh Newcastle hay còn gọi là bệnh dịch tả gà, đây là bệnh truyền nhiễm cấp tính lây lan nhanh và xảy ra ở mọi lứa tuổi gà

Đặc trưng của bệnh là gây viêm, xuất huyết các cơ quan đường tiêu hóa, hô hấp

Triệu chứng bệnh Newcastle ở gà và cách chữa | VTC16

Nguyên nhân và đặc điểm gây bệnh

Do virus có bản chất là RNA virus , có khả năng gây ngưng kết hồng cầu gà thuộc họ Paramyxoviridae gây ra.

Gà đã bị Newcastle rất nặng, có cách nào để cứu? | VTC16

Virus gây bệnh ND được chia thành 4 nhóm. Độc lực cao (Velogenic), độc lực trung bình (Mesogenic), Độc lực thấp (Lentogenic) và không có độc lực (Asymptomatic). Virus này có vỏ bọc nên mẫn cảm với hầu hết thuốc sát trùng thông thường.

Bệnh dịch tả gà lây truyền ngang qua đường tiêu hóa, hô hấp do tiếp xúc với phân, dịch tiết của gà mắc bệnh lây cho gà khỏe hoặc gián tiếp qua phương tiện, dụng cụ chăn nuôi, thức ăn, nước uống bị vẩy nhiễm.

Virus có thể lây qua vỏ trứng từ phân gà nhiễm bệnh.

Bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi của gà và tất cả các thời điểm trong năm, đặc biệt là vào mùa lạnh và ẩm độ cao.

Triệu chứng gà bị dịch tả trên gà

Thời gian ủ bệnh từ 2 – 15 ngày, trung bình từ 5 – 6 ngày .

Trên đàn gà thịt tỉ lệ chết trên 50% , tỷ lệ chết có thể cao hơn 90% ở gà con hoặc gián tiếp qua ở đàn gà không có miễn dịch đối với bệnh này.

Đối với gà để, bệnh này chết từ 0.5 – 4% và giảm đẻ có thể lên đến 60%, màu sắc và hình dạng của vỏ trứng bị thay đổi.

Triệu chứng lâm sáng và thiệt hay thay đổi tùy thuộc vào các yếu tố như độc lực của virus, loài gia cầm, tuổi gà, tình trạng miễn dịch, áp lực mầm bệnh và nhiễm ghép với vi khuẩn khác.

Bệnh được chia thành 4 kiểu bệnh dựa vào độc lực của virus.

Chủng độc lực cao  (Velogenic):

Thể tiêu hóa do chủng Viscerotropic: Xảy ra cấp tính và gây chết nhiều ở mọi lứa tuổi, tỷ lệ chết có thể lên tới 100%.

Gà có biểu hiện giảm ăn, ủ rủ, sốt cao, có dịch nhớt chảy ra từ miệng và tiêu chảy phân xanh.

Mổ khám thấy bệnh tích xuất huyết đường tiêu hóa rất đặc trưng: Xuất huyết trên các núm gai của dạ dày tuyến; hạch manh tràng, các màng Payer’s sưng, xuất huyết nặng; niêm mạc hậu môn xuất huyết.

Thể hô hấp – thần kinh do chủng Neurotropic: Là thể bệnh cấp tính gây chết với tỷ lệ 50% trên gà lớn và có thể gây chết lên tới 90% ở gà con không có miễn dịch đối với bệnh nay.

Gà bệnh khó thở, khò khè; phù vùng mặt, mi và mắt có các biểu hiện như thần kinh như run cơ, kém vận động, khoảng 5 ngày sau khi nhiễm bệnh thấy gà bị liệt chân hoặc cánh; 10 đến 20 ngày sau khi nhiễm virus thấy triệu chứng thần kinh ngoẹo đầu.

Mổ khám thấy tích dịch viêm ở mũi, thanh quản, khí quản, niêm mạc mắt, khí quản xuất huyết. Túi khí dạy đục, tích dịch viêm và khối bã đậu.

Trên gà giống, gà đẻ mắc bệnh thấy giảm sản lượng trúng từ 10 – 60%, trứng thay đổi hình dạng và màu sắc vỏ, trứng vỏ lụa.

Mổ khám thấy viêm phúc mạc bên trong xoang bụng do các nang trứng bị vỡ ra; các nang trứng sung huyết, hình quả bí.

Chủng độc lực trung bình – Mesogenic

Gà cũng có triệu chứng hô hấp và thần kinh với tỷ lệ bệnh và chết rất thấp gây chết chủ yếu trên gà nhỏ tuổi do kế phát thêm vi khuẩn khác như E.Coli, MG,…

Chủng độc lực thấp – Lentogenic

Gà mắc bệnh có thể xuất hiện các dấu hiệu về hô hấp như khò khè, khí quản có những điểm sung hueets, thường thấy biểu hiện lâm sàng này sau khi gà được chủng ngừa các loại vaccine sống nhược độc ( Lasota, B1 )

Chủng không có độc lực – Asymptomatic

Bao gồm các chủng có tính hướng đường ruột hơn đường hô hấp như Queensland V4, Ulters. Gà không có biểu hiện lâm sàng.

Chuẩn đoán gà bị dịch tả

Chuẩn đoán sơ bộ dựa và tỷ lệ bệnh, tỷ lệ chết cũng như triệu chứng lâm sàng và bệnh tích đặc trưng của bệnh.

Chuẩn đoán cận lâm sàng dựa vào kết quả của phòng xét nghiệm, sử dụng phản ứng ngăn trở ngưng kết hồng cầu (HI) để so sánh sự thay đổi kháng thể dịch tả gà khi xảy ra bệnh va sau khi bệnh bùng phát từ 7 – 14 ngày, kháng thể từ thấp tăng lên cao.

Ngoài ra, phương pháp PCR cho phép phát hiện gà nhiễm virus từ môi trường hay vaccine ở các mẫu bệnh phẩm như não, phổi, khí quản, dạ dày tuyến, bursa, ngã ba van hồi manh tràng, lách, khí quản để kiểm tra mô bệnh học.

Cần chuẩn đoán phân biết với một số bệnh do virus gây ra trên trđường hô hấp như: Cúm, Viêm phế quản truyền nhiễm, Viêm thanh khí quản truyền nhiễm,…

Cách phòng bệnh dịch tả trên gà

Phòng bệnh bằng cách tiêm chủng vaccine bao gồm vaccine sống nhỏ mắt hoặc cho uống Volvac ND Lasota MLV, CEVAC New L, ND Clone30 và vaccine chết Cevac New K, hoặc các vaccine tái tổ hợp như Vectormune HVT NDV, Vectormune HVT NDV & Respens, Innovax NF (HVT-ND) cho đàn gà ( Phun sương hay tiêm dưới da cổ,…).

Thực hiện tốt các biện pháp an toàn sinh học trong chăn nuôi, vệ sinh sát trùng giàn mát để không cho mầm bệnh đi vào bên trong trại.

Điều trị

Phác đồ điều trị bệnh Newcastle ở gà | VTC16

Điều trị

Không có thuốc điều trị đặc hiệu đối với bệnh.

Khi xảy ra dịch bệnh không được bán gia cầm bệnh ra bên ngoài,tiến hành tiêu hủy gia cầm bị mắc bệnh trong đàn theo quy định của cơ quan thú y.

Kiểm soát con trùng làm lây lan mầm bệnh, ngưng nhập gà đối với các trại nằm trong vùng dịch trong thời gian 21 ngày.

Tăng cường biện pháp kiểm soát phòng bệnh các trại xung quanh bằng cách tiêm phòng vaccine.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Gọi ngay!
chat-active-icon